21 Thức ăn từ côn trùng – Hơn cả dinh dưỡng mới nhất

Các loại côn trùng phổ biến nhất được sử dụng trong thức ăn cho vật nuôi là dế mèn (họ Gryllidae), sâu bột (Tenebrio molitor) và ấu trùng ruồi lính đen (BSFL – Hermetia illucens). Các thành phần côn trùng được sản xuất thương mại có sẵn dưới dạng côn trùng khô nguyên con, bột (đã khử chất béo một phần hoặc toàn bộ), dầu và vụn (cặn từ việc nuôi côn trùng bao gồm thức ăn thừa, phân và chất rụng). Côn trùng được biết đến với hàm lượng protein cao và thành phần axit amin có thể so sánh được với các nguồn protein truyền thống như bột cá và bột đậu nành. Ngoài ra, chúng cũng là nguồn cung cấp chất béo, vitamin và khoáng chất tuyệt vời.

Thành phần dinh dưỡng của côn trùng sẽ thay đổi tùy thuộc vào chế độ ăn uống và giai đoạn sống khi thu hoạch, tăng khả năng cho các cấu hình dinh dưỡng thành phần côn trùng tùy chỉnh, đặc biệt liên quan đến protein, axit béo omega-3 và canxi (Gligorescu và cộng sự, 2018; Oonincx và cộng sự, 2019).

Ngoài hàm lượng dinh dưỡng, côn trùng còn có tính bền vững cao. So với năng suất protein hàng năm của cây đậu tương là 0,12 kg/m2, năng suất protein côn trùng trung bình (tính cho nguyên liệu đầu vào) là 2,18, 4,06 và lên đến 7,93 kg/m2 đối với dế, sâu bột và ấu trùng ruồi lính đen (Koutsos và cộng sự, 2019). Sản lượng protein côn trùng cao hơn là do số lượng chu kỳ tăng trưởng hàng năm tăng lên mà cây trồng không thể đạt được. Những sản lượng này cũng đòi hỏi ít nước, thức ăn và đất và tạo ra ít CO2 hơn. Phan Van Phi et al. (2020) đã chứng minh giảm 51% lượng khí thải CO2 để sản xuất các thành phần côn trùng so với bột cá. Đối với dân số toàn cầu ngày càng tăng đã tăng gấp đôi mức tiêu thụ cá trong vòng chưa đầy 60 năm (FAO, 2020), các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi bền vững hơn đang là xu thế.

Các thành phần côn trùng không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao và bền vững, mà kết quả từ việc đưa chúng vào thức ăn NTTS cũng rất khả quan đối với một số loài. Chế độ ăn cho TTCT thay thế bột cá bằng bột BSFL với tỷ lệ lên đến 28% đã dẫn đến phản ứng tăng trưởng tích cực và hàm lượng dinh dưỡng toàn cơ thể (Cummins, Jr. và cộng sự, 2017). Hiệu suất tăng trưởng của TTCT cũng được cải thiện khi tôm được cho ăn khẩu phần có tới 50% bột dế (Gryllus bimaculatus) so với tôm được cho ăn chế độ ăn đối chứng (Peh et al., 2021).

Ngoài ra, côn trùng cung cấp giá trị hơn cả dinh dưỡng. Axit lauric và kitin đã chứng minh đặc tính kháng khuẩn, kháng virus và điều hòa miễn dịch. Axit lauric, một axit béo 12 carbon, được chuyển hóa dễ dàng thành năng lượng (Dayrit, 2015). Nồng độ axit lauric từ dầu BSFL có thể so sánh với nồng độ của dầu hạt cọ và dầu dừa.

Các thành phần côn trùng là một sự thay thế bền vững, đầy hứa hẹn cho các protein truyền thống trong khẩu phần thức ăn NTTS, đồng thời cung cấp tiềm năng tối ưu hóa sức khỏe đường ruột và tình trạng miễn dịch.

Kinh doanh kỹ thuật, EnviroFlight®