23 Indonesia: Nghề tôm phục hồi từ thế hệ trẻ mới nhất

Về PMI

Các thành viên PMI đóng góp gần 25% vào sản xuất quốc gia. Ông Rizky Darmawan, Giám đốc PT Delta Marine Indonesia và Chủ tịch PMI cho biết: “Chúng tôi đã chờ 2 năm để có thể gặp trực tiếp. Chi phí sản xuất đang tăng, giá tôm thấp và những thách thức về dịch bệnh như bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) nghiêm trọng ở Lampung. Mối quan tâm của chúng tôi là thị trường đang chậm lại như thế nào và tôm Indonesia liệu có đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu?”.

Ông TB Haeru Rahayu, Tổng cục trưởng Tổng cục NTTS, Bộ Hàng hải và Nghề cá (MMAF) cũng đã trình bày về kế hoạch hành động để tăng sản lượng tôm lên 2 triệu tấn vào năm 2024. Kế hoạch đầy tham vọng sẽ yêu cầu hồi sinh các ao truyền thống và tăng năng suất đến 30 tấn/ha/năm. Mặc dù nuôi tôm có triển vọng, tuy nhiên, ông Haris Muhtadi, Bộ phận Aquafeed của Hiệp hội các nhà máy thức ăn chăn nuôi Indonesia (GPMT) và Phó Giám đốc tại PT CJ Feed and Livestock, cho biết các thành viên PMI nên áp dụng nhiều hơn IoT và kỹ thuật số hóa, xem xét các hệ thống nuôi có kiểm soát như bể tròn và sử dụng nguồn cấp dữ liệu chức năng.

Trang trại nuôi tôm tại Indonesia. Ảnh: Mongabay

Thông tin tổng hợp từ các ứng dụng của công ty khởi nghiệp JALA cho thấy mật độ thả trong ao nuôi bán thâm canh là dưới 100 PL/m2; trang trại thâm canh thả 100 – 200 PL/m2 và ao siêu thâm canh thả hơn 200 PL/m2. Năng suất rất đa dạng, từ 11 – 36 tấn/ha đối với ao siêu thâm canh, 5,5 – 25 tấn/ha trong ao thâm canh và đối với ao bán thâm canh, dao động từ 0,82 – 2,74 tấn/ha. Khi các trang trại có dịch bệnh như EHP, năng suất giảm xuống 10,4 tấn/ha đối với các trang trại siêu thâm canh hiệu quả cao. Chi phí sản xuất dao động từ mức cao 78.000 IDR/kg (5,19 USD/kg) đến thấp nhất là 42.000 IDR (2,8 USD/kg) đối với các trang trại siêu thâm canh.

Mong muốn của PMI là tiếp thị tôm bền vững, sử dụng năng lượng xanh như tấm pin PV, trồng lại rừng ngập mặn và tất nhiên việc truy xuất nguồn gốc là điều cần thiết. PMI chia thành 2 nhóm. Một số là nông dân thế hệ thứ hai tiếp quản trang trại từ cha mẹ và nhóm khác là những doanh nhân trẻ rất thành công trong lĩnh vực nuôi tôm. Họ được đào tạo bài bản và nhìn nhận việc nuôi tôm một cách khoa học, phân tích dữ liệu trong quá trình ra quyết định.

Quản lý các tác nhân gây căng thẳng

Đối mặt với tỷ lệ sống rất thấp và một số vụ mất mùa, một số nông dân ở Lampung đã bắt đầu sử dụng tôm bố mẹ từ American Penaeid Inc (API) với kết quả tốt. API đã phát triển tôm bố mẹ mạnh mẽ và có khả năng chịu đựng, tập trung vào tỷ lệ sống trước tiên. Ông Robin Pearl, Giám đốc điều hành Công ty, cho biết dịch bệnh sẽ luôn là một phần của ngành tôm nhưng chúng ta có thể vượt qua nó với những con tôm giống khỏe mạnh và sau đó là cải thiện phương thức nuôi. Ông Pearl cũng chia sẻ dòng Dragon của API phát triển cho thị trường Trung Quốc hiện đã có mặt ở Indonesia. Tăng trưởng trung bình hàng tuần là 2 g/tuần trong ao thả 250 PL/m2 và kích cỡ thu hoạch là 35 – 40 con/kg.

anh tom dep nguon HI

Ảnh: HI

Giám đốc kỹ thuật NTTS tại DSM Indonesia, ông Abang Murali Simanjuntak đã mô tả rất toàn diện về những thay đổi của hệ vi sinh vật ở tôm với các tác nhân gây căng thẳng từ môi trường và vai trò phức tạp đối với sức khỏe động vật. Trong thời gian 16 tuần nuôi, bệnh AHPND có thể xảy ra từ khi thả giống đến tuần thứ 4. Trong toàn bộ chu kỳ, có mối đe dọa của WSSV và EHP. Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột là các giai đoạn phát triển, thành phần thức ăn, môi trường và tình trạng sức khỏe. “Căng thẳng môi trường do amoniac và sulfua định hình lại cấu trúc cộng đồng vi sinh vật đường ruột. Trầm tích ao được thu thập từ các ao nuôi tôm ở Trung Quốc cho thấy cộng đồng vi khuẩn ngày càng trở nên khác biệt so với khi bắt đầu chu kỳ. Vì vậy, hệ vi sinh vật đường ruột tương tự như trầm tích, có nghĩa là quản lý trầm tích cũng quan trọng như quản lý nước”.

Ông cũng cho biết việc quản lý các quần thể Vibrio bị ảnh hưởng mạnh bởi độ mặn và nhiệt độ. Một cách tiếp cận toàn diện đối với môi trường, mầm bệnh và vật chủ là điều cần thiết để tăng khả năng thích ứng của tôm nhằm giảm nguy cơ dịch bệnh. Ông Abang Murali đề nghị giữ mức Vibrio thấp ở mức CFU là 103 nhưng tốt nhất là ở mức CFU là 102, điều này có thể đạt được nhưng đòi hỏi nhiều công sức và sự chú ý.

Hướng tới tương lai

Ông Haris, Giám đốc Nghiên cứu và Phát triển của SIS, đã đưa ra một thông điệp rõ ràng tới những người nông dân trẻ có mặt tại hội nghị: “Không tập trung vào sản xuất mà dựa vào chi phí sản xuất lành mạnh. Khi thị trường xấu, người nuôi vẫn có thể duy trì sản xuất bằng cách giảm mật độ nuôi và duy trì tỷ lệ sống tốt. Cuối cùng, đó là hiệu quả sản xuất”.

Ngành công nghiệp cần đa dạng hóa sang thị trường EU, nhưng điều này đòi hỏi phải có chứng nhận và xoay quanh chất lượng. Trong khi đó, không có nhà chế biến nào ở Indonesia có chứng nhận ASC vì các nhà chức trách cho rằng chứng nhận địa phương là đủ. Để xuất khẩu sang EU, cả người chế biến và người nông dân đều đóng vai trò quan trọng như nhau cùng với cơ quan có thẩm quyền. Thị trường EU là một thị trường khó tính, các nhà chế biến cần tuân thủ các tiêu chuẩn như không ngâm nước và tôm HOSO còn nguyên đầu.

Cùng lúc đó, Ecuador được nhiều nhà nhập khẩu tạo điều kiện dễ dàng tiếp cận thị trường EU, thì ngành tôm ở Indonesia lại bị phân tán. Việc đưa tôm Indonesia trở thành một sản phẩm bền vững là tùy thuộc vào các nông dân trẻ. PMI, bằng cách làm việc cùng nhau và cùng chung tiếng nói, có thể tạo ra sự khác biệt.

Thảo Giang

Theo Asia Aquaculture